Nguồn gốc Chuột hamster

Hay còn gọi là chuột đất vàng, trong từ điển dịch là chuột hang vì là loài thường hay đào hang. Chuột hamster là một loài động vật gặm nhấm thuộc phân họ Cricetinae. Bao gồm 25 loài thuộc 6 hoặc 7 chi khác nhau. Chúng được nuôi để làm các thí nghiệm khoa học. Hiện nay còn để làm thú nuôi cho những người yêu thích vật nuôi nhỏ. Chuột hams được phát hiện tại một thành phố gần Siberia vào năm 1829. Chuột hamster không phải thuộc loài họ chuột thông thường (họ Chuột) như chuột cống, chuột nhắt, chuột đồng… mang nhiều mầm bệnh. Mà thực ra chúng thuộc họ Cricetidae. Chúng sinh sống ngoài tự nhiên, thường đào hang và có hai túi má để dự trữ thức ăn.

Đặc điểm của chuột hamster

Chúng thường sống ở hoang mạc, bán hoang mạc, hoặc nơi có khí hậu ôn đới. Không phải loài chuột đồng thường phá hoại mùa màng. Chuột hams có kích thước nhỏ. Bộ lông mềm bao phủ khắp cơ thể. Chúng có nhiều loại và nhiều màu lông khác nhau (đen, xám, vàng, trắng, trắng tuyền, vàng kim…). Chuột hams có đuôi nhưng cực kì ngắn. Có 1 lớp lông mỏng bao phủ dường như chẳng để làm gì cả.

>> Thỏ và Hamster tại cửa hàng thú cảnh PetXinh Gò Vấp – TP.HCM

Các dòng (loại) chuột hamster

Chuột hams được chuyển đến tất cả các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng tới Anh vào năm 1931,và 1938 thì nhu nhập vào Mỹ. Còn giống Golden Hamster được sinh từ những con thuần chủng tìm thấy ở Syria với số lượng rất ít. Hamster được bán ra từ những du khách đem từ sa mạc Syria về. Có hẳn một kho riêng biệt quan trọng lưu trữ hamster ở Mỹ vào năm 1971. Thật sự hamster trở nên nổi tiếng và nhiều người biết đến. Nhờ phong trào nuôi thú cưng ở Bắc Mỹ. Trên thị trường hiện bán các loại chuột hams chủ yếu để làm vật nuôi:

  • Phodopus sungorus: mắt đen, thuần chủng có các màu lông agouti (tiếng Việt gọi là màu sóc), sapphire (xám tro), pearl (trắng sọc đen). Bản tính thường hiền lành, dạn người. Có thể lai với Campbell’s Dwarf Hamster.
  • Phodopus campbelli: mắt đỏ hoặc đen, có các màu lông albino (bạch tạng – lông trắng mắt đỏ), agouti, argente (màu trà sữa), opal (lông xanh xám, bụng trắng, mắt đen), đen, mottled (lông lốm đốm giống bò sữa), platinum (trắng, mắt đen)… thường dữ hơn Winter-white.
  • Phodopus roborovskii: kích thước nhỏ nhất, mắt đen, thường có màu lông nâu, mặt nâu hoặc trắng. Đôi khi cũng có màu bạch kim (trắng toàn thân).
  • Golden hoặc Mesocricetus auratus: tiếng Việt thường gọi là Hamster bear. Chúng có kích thước lớn nhất, có rất nhiều màu lông khác nhau.

 

Liên hệ: 0128.960.1992 (KIÊN)

Để được hỗ trợ và tư vấn trực tiếp.

★★★